Photography

I-KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Độ phơi sáng ( Exposure) và các yếu tố ảnh hưởng

1.1. Khẩu độ ( Aperture)

Khẩu là một thành phần trong cấu tạo của lens, nó cho phép ánh sáng đi qua, vào bên trong máy ảnh và cuối cùng là đến cảm biến. Khẩu được tạo thành từ nhiều lá khẩu bằng thép, tùy theo máy ảnh mà số lá khẩu có thể khác nhau 5, 7 hay 9 lá khẩu. Các lá khẩu này được sắp xếp so le theo hình tròn và có thể trượt lên nhau khi mở ra hay thu hẹp kích thước của khẩu độ.

Khẩu độ quyết định hai yếu tố: lượng ánh sáng đi vào lens và độ sâu trường ảnh (Depth of field-DOF). Lượng ánh sáng vào trong lens được điều chỉnh bằng cách thay đổi các giá trị f trên máy. F mang giá trị càng nhỏ thì độ mở của khẩu càng lớn, lượng ánh sáng vào lens càng nhiều, và ngược lại. Giá trị f được tính bằng độ dài tiêu cự chia cho đường kính của lỗ tròn tạo ra bởi các lá khẩu. Ví dụ ta có ống kính 50mm và đường kính lớn nhất của lỗ tròn là 35mm, khẩu độ f lớn nhất sẽ lá 50/35 ~ 1.4. Trên thân lens, khẩu độ được chia thành nấc, mỗi nấc là một f-stop và lượng ánh sáng đi vào sẽ nhiều hơn hay ít hơn một nữa.

Kích thước của khẩu độ hay khả năng mở, đóng của các lá khẩu thay đổi tùy theo lens. Lens có độ mở khẩu càng lớn thì càng đắt tiền, thường được gọi là lens nhanh (fast lens). Tuy dắt tiền nhưng những lens này mang lại khá nhiều thuận lơi cho người dùng. Trước hết là lượng ánh sáng vào sẽ nhiều hơn nên thuận tiên khi chụp ảnh trong những điều kiện thiếu sáng, đặc biệt là vào buổi tối và khi không có tripod. Ưu điểm thứ hai của fast lens là chúng sẽ tạo ra trường ảnh hẹp hơn, nhưng cũng có thể mở rộng trường ảnh khi cần thiết.

Trường ảnh (DOF) diễn tả độ rộng nét của một tấm ảnh. Nếu một tấm ảnh có DOF lớn, có nghĩa là độ rõ của ảnh sẽ lớn (phần lớn ảnh được nét). Nếu một tấm ảnh có DOF nhỏ, phần được lấy nét của ảnh sẽ nét, phần còn lại (có thể là background hay foreground) sẽ bị mờ. Điều khiển trường ảnh là một yếu tố cực kỳ quan trọng để tạo nên `linh hồn` của một bức ảnh. Chẳng hạn nhờ vào DOF mà khi nhìn vào một tấm ảnh, người xem có thể biết là tác giả đang muốn nhấn mạnh vào yếu tố nào hay yếu tố nào trong tấm ảnh là không quan trọng…

1.2. Tốc độ chụp hay tốc độ màn trập ( Shutter speed)

Tốc độ chụp nói ở đây chính là tốc độ của màn trập bên trong máy ảnh. Mọi người có thể hình dung màn trập giống như một của sổ hay màn cửa, được đặt ngay phía trước cảm biến của máy ảnh. Màn trập này điều khiển lượng ánh sáng từ khẩu vào cảm biến và tạo ra một bức ảnh. Nếu màn trập mở lâu thì cảm biến sẽ phơi nhiễm với lượng ánh sáng lớn (ánh sáng đi từ khẩu vào cảm biến nhiều). Và ngược lại, nếu màn trập mở ra trong thời gian rất ngắn (hoặc đóng) thì cảm biến sẽ phơi nhiễm với lượng ánh sáng rất rất ít (hoặc không có).

Chúng ta quyết định thời gian mở lâu hay mau của màn trập bằng cách điều chỉnh thông số tốc độ màn trập (shutter speed). Tốc độ màn trập được đo bằng giây và một phần của giây. Tốc độ một phần của giây là rất nhanh, ví dụ 1/15, 1/30. Tốc độ nhanh thường được dùng khi bạn muốn ”đóng băng” một hành động của chủ thể. Và khi chụp với tốc độ nhanh thì cho phép chúng ta giữ máy bằng tay mà không cần dùng đến tripod.

Đối với những chủ thể chuyển động (ví dụ một người đang chạy bộ hay nước đang chảy…), cần thiết lập tốc độ chụp chậm để có thể bắt được hành động của chủ thể mượt mà hơn. Tuy nhiên, khi thiết lập tốc độ chậm thì cần thiết phải đặt máy lên tripod bởi vì tay người có độ vững trong một thời gian nhất định. Tốc độ chụp càng chậm thì thời gian giữ máy càng lâu, khả năng rung tay càng cao, và tất nhiên ảnh cho ra sẽ mờ hoặc không nét là điều không tránh khỏi.

Vậy làm thế nào để biết tốc độ chụp bao nhiêu là đủ? Có một quy tắc vàng mà chúng ta nên nhớ đó là: thiết lập tốc độ chụp (hay tốc độ màn trập) lớn hơn hoặc bằng độ dài tiêu cự của lens bạn đang sử dụng. Ví dụ nếu bạn đang dùng lens với tiệu cự 100mm thì tốc độ chụp tối thiểu phải là 1/125

1.3. ISO

ISO, là từ viết tắt của International Organization for Standardization, được dùng để chỉ độ nhạy của cảm biến với ánh sáng. ISO thường bắt đầu từ 100 và có thể lên tới 12800 hoặc cao hơn nữa tùy thuộc vào từng máy ảnh. ISO càng thấp thì độ nhạy sáng của cảm biến càng thấp. Điều đó có nghĩa là để có cùng một lượng ánh sáng vào cảm biến, nếu thiết lập ISO 100 thì bạn phải cần phải có cường độ ánh sáng mạnh hơn so với khi thiếp lập ISO 800 chẳng hạn.

Tuy nhiên, có một bất lợi khi dùng ISO cao là chất lượng hình ảnh sẽ giảm vì hình bị nhiễu (có những hạt nhỏ li ti trên ảnh). ISO càng cao thì độ nhiễu càng nhiều, cho nên cần phải cân nhắc khi thiết lập ISO chứ không chỉ đơn giản là cần nhiều ánh sáng thì tăng ISO. Độ nhiễu bao nhiêu là phù hợp? Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào bạn, nếu điều kiện thuận lợi thì nên cố gắng set up ISO càng thấp càng tốt. Tuy nhiên, đôi khi chúng ta gặp phải một số trường hợp mà nội dung tấm ảnh quan trọng hơn chất lượng hình ảnh, khi đó việc tăng ISO cao để đảm bảo một tấm ảnh đủ sáng là chọn lựa sáng suốt.

1.4. Tính độ phơi sáng tổng thể

Leave a comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s